50 truyện cổ tíchSong ngữ Hàn – Việt
Truyện 43 · B2 · trang 196-200
58 câu · ⭐ 0

43. 구렁덩덩 선비

Chàng thư sinh Gureongdeongdeong (thư sinh mãng xà)

옛날에 어떤 할머니가 있었는데 늙도록 자식이 없었습니다. 할머니는 자식을 낳고 싶어서 산신령께 열심히 기도했습니다. 그러던 어느 할머니는 밭에서 일을 하다가 알을 하나 발견했습니다. 일하느라 배가 고팠던 할머니는 알을 집으로 가져와서 삶아 먹었습니다. 할머니는 임신한 것처럼 배가 점점 커졌습니다. 그리고는 구렁이 아들을 낳았습니다. 할머니는 구렁이를 낳았다는 사실이 놀랍기는 했지만 그래도 구렁이 아들이 예쁘고 귀여웠습니다. 그러던 어느 이웃집의 딸이 아기를 구경하러 왔습니다. 구렁이 아기를 첫째 딸과 둘째 딸이 말했습니다.

Ngày xưa, có một bà lão đã già mà vẫn không có con. Bà lão muốn sinh được một đứa con nên ngày ngày thành tâm cầu khấn thần núi. Rồi một hôm, bà lão đang làm việc ngoài ruộng thì phát hiện một quả trứng lớn. Làm lụng vất vả nên bụng đói, bà lão đem quả trứng về nhà luộc ăn. Sau đó, bụng bà lão cứ lớn dần lên như thể đang mang thai. Và mười tháng sau, bà sinh ra một người con trai là con mãng xà. Bà lão tuy kinh ngạc vì mình sinh ra một con mãng xà, nhưng vẫn thấy đứa con mãng xà thật xinh xắn đáng yêu. Rồi một hôm, ba cô con gái nhà hàng xóm sang xem đứa bé. Nhìn thấy đứa bé mãng xà, cô con gái cả và cô con gái thứ hai nói:

“어머, 징그러워. 구렁이잖아.”

“Ôi, gớm quá. Là mãng xà mà.”

그러고는 집으로 돌아갔습니다. 하지만 셋째 딸은 구렁이 아기를 가만히 들여다보고 말했습니다.

Nói rồi họ bỏ về nhà. Nhưng cô con gái út thì cứ lặng lẽ ngắm nhìn đứa bé mãng xà rồi nói:

“조그만 귀엽네.”

“Bé xíu thế này mà dễ thương ghê.”

셋째 딸은 구렁이 아기를 징그러워하거나 무서워하지 않았습니다. 그래서 가끔 구렁이 아기와 놀았습니다. 할머니는 구렁이 아들을 사랑으로 키웠습니다. 세월이 흘러 장가를 나이가 구렁이 아들이 할머니에게 말했습니다.

Cô con gái út không thấy đứa bé mãng xà gớm ghiếc hay đáng sợ. Vì vậy thỉnh thoảng cô lại chơi với đứa bé mãng xà. Bà lão nuôi nấng người con mãng xà bằng cả tình thương. Năm tháng trôi qua, đến tuổi lấy vợ, người con mãng xà nói với bà lão:

“어머니, 이웃집 셋째 딸과 결혼을 하고 싶어요.”

“Mẹ ơi, con muốn cưới cô con gái út nhà hàng xóm.”

“얘야, 너는 구렁이인데 어떻게 옆집 딸하고 결혼할 있겠니?”

“Con ơi, con là mãng xà, làm sao có thể cưới con gái nhà bên được?”

할머니는 된다고 말했지만 구렁이 아들은 계속 할머니를 졸랐습니다.

Bà lão bảo là không được, nhưng người con mãng xà cứ nằng nặc nài nỉ mẹ.

할머니는 아들의 고집을 꺾을 없었습니다. 결국 할머니는 이웃집에 가서 이야기했습니다. 그런데 뜻밖에 셋째 딸이 구렁이와 결혼을 하겠다고 했습니다. 그래서 셋째 딸과 구렁이 아들은 결혼을 했습니다. 그날 구렁이 아들은 셋째 앞에서 허물을 벗고 잘생긴 선비가 되었습니다.

Bà lão không sao lay chuyển được sự bướng bỉnh của con. Cuối cùng, bà lão sang nhà hàng xóm nói chuyện. Thế mà thật bất ngờ, cô con gái út lại đồng ý lấy con mãng xà. Thế là cô con gái út và người con mãng xà nên duyên vợ chồng. Đêm hôm ấy, người con mãng xà lột xác ngay trước mặt cô con gái út và trở thành một chàng thư sinh tuấn tú.

“나는 하늘에 죄를 지어서 구렁이로 태어났지만, 이제 다시 사람이 되었으니 너무 놀라거나 걱정하지 마세요.”

“Ta phạm tội với trời nên phải sinh ra làm mãng xà, nhưng nay đã được làm người trở lại, nàng đừng quá kinh ngạc hay lo lắng nhé.”

구렁이 아들이 멋진 선비가 되었다는 소문이 마을에 퍼졌습니다. 사람들은 구렁이 아들을 구렁덩덩 선비라고 불렀습니다.

Tin đồn người con mãng xà đã hóa thành một chàng thư sinh khôi ngô lan khắp cả làng. Người ta gọi người con mãng xà ấy là thư sinh Gureongdeongdeong.

어느 구렁덩덩 선비는 시험을 보러 서울에 가게 되었습니다. 구렁덩덩 선비는 집을 떠나면서 아내에게 말했습니다.

Một hôm, thư sinh Gureongdeongdeong phải lên kinh thành đi thi. Trước khi rời nhà, chàng dặn vợ:

“내가 없는 동안 허물을 보관해 주세요.”

“Trong lúc ta đi vắng, nàng hãy cất giữ cẩn thận cái xác lột này nhé.”

셋째 딸은 남편의 허물을 예쁜 천에 싸서 벽장에 보관했습니다. 그런데 동생의 집에 놀러 첫째 딸과 둘째 딸이 벽장을 열어 봤다가 허물을 보게 되었습니다.

Cô con gái út gói lớp xác lột của chồng thật kỹ trong một tấm vải đẹp rồi cất vào trong tủ tường. Thế nhưng cô chị cả và cô chị thứ hai sang chơi nhà em, mở tủ tường ra xem thì trông thấy lớp xác lột ấy.

“얘는 징그럽게 이런 가지고 있는 거야?”

“Con bé này giữ cái thứ gớm ghiếc thế này làm gì không biết?”

첫째와 둘째 딸은 구렁덩덩 선비의 허물을 불에 던졌습니다. 그러자 허물은 순식간에 버렸습니다. 셋째 딸이 급히 불을 보려고 했지만 허물은 이미 버린 후였습니다. 허물이 타는 냄새는 멀리멀리 퍼졌습니다. 곳에 있던 구렁덩덩 선비는 허물이 타는 냄새를 맡았습니다. 선비는 냄새를 맡고 집으로 돌아오지 않았습니다. 년, 년, 년을 기다린 아내는 선비를 찾아 떠났습니다. 길을 걷고 걷다가 까치에게 물었습니다.

Cô chị cả và cô chị thứ hai ném lớp xác lột của thư sinh Gureongdeongdeong vào lửa. Lớp xác lột cháy rụi trong nháy mắt. Cô con gái út vội vàng chạy đến dập lửa, nhưng lớp xác lột đã cháy hết mất rồi. Mùi khét của lớp xác lột cháy lan đi thật xa. Thư sinh Gureongdeongdeong đang ở nơi xa cũng ngửi thấy mùi xác lột của mình đang cháy. Ngửi thấy mùi ấy, chàng thư sinh không trở về nhà nữa. Người vợ chờ đợi một năm, hai năm, ba năm rồi lên đường đi tìm chồng. Nàng đi mãi, đi mãi trên đường rồi hỏi con chim khách:

“까치님, 구렁덩덩 선비님을 봤나요?”

“Chim khách ơi, chim khách có thấy thư sinh Gureongdeongdeong không?”

까치는 벌레를 잡아 주면 알려 주겠다고 말했습니다. 셋째 딸이 벌레를 잡아 주자 밭에서 일하는 할아버지에게 물어보라고 했습니다.

Chim khách bảo nếu bắt sâu cho nó thì nó sẽ chỉ cho. Cô con gái út bắt sâu cho nó xong, nó bảo nàng hãy đi hỏi ông lão đang làm việc ngoài ruộng.

“할아버지, 구렁덩덩 선비님을 봤나요?”

“Thưa ông, ông có thấy thư sinh Gureongdeongdeong không ạ?”

할아버지는 밭에서 일을 주면 알려 준다고 말했습니다. 셋째 딸이 일을 주자 강가에서 빨래하는 여자에게 물어보라고 말했습니다. 그래서 빨래하는 여자에게 가서 물어봤더니 빨래를 주면 알려 주겠다고 했습니다. 셋째 딸은 많은 빨래를 주었습니다. 빨래하는 여자는 셋째 딸에게 커다란 바가지를 주며 바가지를 타고 강을 따라 내려가라고 했습니다. 셋째 딸은 바가지를 타고 강을 따라 내려가서 남편이 있는 곳을 찾았습니다. 구렁덩덩 선비는 달을 보며 아내와 함께 부르던 노래를 혼자 부르고 있었습니다. 셋째 딸도 노래를 불렀습니다. 사람은 노래로 서로 사랑하는 마음이 변하지 않았다는 것을 확인했습니다. 그래서 사람은 다시 만나 행복하게 살았습니다.

Ông lão bảo nếu nàng làm hết việc đồng giúp ông thì ông sẽ chỉ cho. Cô con gái út làm hết việc xong, ông bảo nàng hãy đi hỏi người đàn bà đang giặt đồ bên sông. Thế là nàng đến hỏi người đàn bà giặt đồ, bà ta bảo nếu giặt hết chỗ đồ ấy thì bà sẽ chỉ cho. Cô con gái út giặt hết cả đống đồ. Người đàn bà giặt đồ đưa cho cô con gái út một cái gáo bầu thật lớn và bảo nàng hãy ngồi lên gáo bầu mà xuôi theo dòng sông. Cô con gái út ngồi lên gáo bầu, xuôi theo dòng sông và tìm được nơi chồng mình đang ở. Thư sinh Gureongdeongdeong đang ngắm trăng, một mình hát khúc ca mà ngày xưa chàng vẫn hát cùng vợ. Cô con gái út cũng cất tiếng hát theo. Qua khúc hát, hai người xác nhận rằng tấm lòng yêu thương nhau vẫn không hề đổi thay. Thế là hai người gặp lại nhau và sống hạnh phúc bên nhau.

Từ vựng

삶다luộc
조르다nài nỉ, vòi vĩnh
임신sự mang thai
고집sự bướng bỉnh, cố chấp
구렁이mãng xà
깨다đập vỡ, phá vỡ
놀랍다đáng kinh ngạc
뜻밖에bất ngờ, không ngờ
징그럽다gớm ghiếc, ghê tởm
(뱀의) 허물xác lột (của rắn)
달아나다chạy trốn, bỏ chạy
toàn bộ, cả
들여다보다nhìn vào, ngắm nhìn
퍼지다lan ra, lan rộng
조그맣다nhỏ xíu
보관하다cất giữ, bảo quản
세월năm tháng, thời gian
급히vội vàng, gấp gáp
장가việc lấy vợ (của đàn ông)
벌레con sâu, con bọ

Câu hỏi

  1. 1.셋째 딸은 구렁이 아기를 보고 뭐라고 말했습니까?

    Cô con gái út đã nói gì khi nhìn thấy đứa bé mãng xà?

  2. 2.선비는 왜 집으로 돌아오지 않았습니까?

    Vì sao chàng thư sinh không trở về nhà?

Xem đáp án
  1. 조그맣고 귀엽다고 말했습니다.

    Cô nói rằng nó bé xíu và dễ thương.

  2. 허물이 타는 냄새를 맡았기 때문입니다.

    Vì chàng đã ngửi thấy mùi lớp xác lột đang cháy.

0:005:52
1.00×

Đang tải audio… 0%