39. 여우 누이
Người em gái cáo
옛날 어느 마을에 세 아들이 있는 부부가 있었습니다. 이 부부는 딸을 갖고 싶었습니다. 그래서 부부는 날마다 산에 가서 딸을 낳게 해 달라고 열심히 기도했습니다. 그런데 산에 살던 천 살 된 여우가 이 부부의 기도를 들었습니다.
Ngày xưa, ở một ngôi làng nọ có hai vợ chồng đã có ba người con trai. Hai vợ chồng này lại muốn có một cô con gái. Vì vậy, ngày nào họ cũng lên núi thành tâm cầu khấn cho mình sinh được một mụn con gái. Thế nhưng, con cáo ngàn tuổi sống trên núi đã nghe được lời cầu nguyện của hai vợ chồng.
‘그래, 내가 저 부부의 딸이 되어야겠다.’
‘Được lắm, ta sẽ trở thành con gái của hai vợ chồng kia.’
얼마 후 부부는 정말로 딸을 낳았습니다. 늦은 나이에 얻은 귀한 딸이었기 때문에 부부는 이 아이를 매우 아끼고 사랑하였습니다. 그런데 딸이 7살이 되던 어느 날 외양간에 있는 소가 죽었습니다. 아프지도 않고 멀쩡했던 소가 갑자기 죽은 것이었습니다. 그리고 다음 날에는 말이 죽었습니다. 이렇게 건강했던 동물이 매일 죽기 시작하자 부부는 이상하다고 생각했습니다. 그래서 첫째 아들을 불렀습니다.
Ít lâu sau, hai vợ chồng quả nhiên sinh được một cô con gái. Vì là đứa con gái quý giá có được khi đã luống tuổi nên hai vợ chồng hết mực nâng niu và thương yêu đứa bé. Thế nhưng, vào một ngày nọ khi cô con gái lên bảy tuổi, con bò trong chuồng bỗng lăn ra chết. Con bò vốn chẳng đau ốm gì, vẫn khỏe mạnh bình thường vậy mà đột nhiên chết. Rồi ngày hôm sau, con ngựa cũng chết. Thấy những con vật khỏe mạnh cứ thế lần lượt chết mỗi ngày, hai vợ chồng đâm ra thấy lạ. Thế là họ gọi người con trai cả đến.
“오늘 밤에 외양간에 가서 동물들이 왜 갑자기 죽는지 잠을 자지 말고 지켜봐라.”
“Đêm nay con ra chuồng gia súc, đừng ngủ mà hãy canh xem vì sao lũ vật nuôi lại đột nhiên chết như vậy.”
그날 밤 첫째 아들은 외양간을 지켜보다가 너무 졸려서 잠이 들었습니다. 다음 날 아침 첫째 아들은 아버지에게 혼나는 것이 두려워서 아무 일도 없었다고 거짓말을 했습니다. 이번에는 둘째 아들에게 외양간을 지켜보라고 했습니다. 둘째 아들도 잠이 들었고 다음 날 아버지에게 아무 일도 없었다고 거짓말을 했습니다. 이번에는 셋째 아들 차례였습니다. 셋째 아들은 볶은 콩을 준비했습니다.
Đêm ấy, người con trai cả ngồi canh chuồng gia súc nhưng vì quá buồn ngủ nên đã thiếp đi. Sáng hôm sau, người con cả sợ bị cha mắng nên nói dối rằng chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Lần này, người cha bảo con trai thứ hai ra canh chuồng gia súc. Người con thứ hai cũng ngủ quên, rồi hôm sau lại nói dối cha rằng chẳng có chuyện gì xảy ra. Lần này đến lượt người con trai thứ ba. Người con thứ ba chuẩn bị sẵn một ít đậu rang.
‘잠이 오면 이걸 먹으면서 잠을 쫓아야겠어. 동물들이 왜 죽는지 그 이유를 내가 꼭 밝힐 거야.’
‘Nếu buồn ngủ thì mình sẽ ăn mấy hạt đậu này để xua cơn buồn ngủ đi. Nhất định mình sẽ tìm ra nguyên nhân vì sao lũ vật nuôi lại chết.’
셋째 아들은 숨어서 외양간을 지켜보았습니다. 깊은 밤이 되자 잠이 솔솔 왔습니다. 셋째 아들은 붉은 콩을 먹으면서 잠을 쫓았습니다. 얼마 후 방에서 누이가 나와 외양간으로 가는 것이 보였습니다. 그런데 누이의 치마 밑으로 여우의 꼬리가 보였습니다. 누이는 외양간에서 소의 배를 갈라서 간을 꺼내어 먹었습니다. 이 모습을 본 셋째 아들은 너무 무서워서 몸이 덜덜 떨렸습니다. 다음날 셋째 아들이 아버지에게 이 사실을 말했지만 아버지는 믿지 않았습니다.
Người con thứ ba nấp một chỗ và canh chừng chuồng gia súc. Đêm về khuya, cơn buồn ngủ từ từ kéo đến. Người con thứ ba vừa ăn đậu rang vừa xua cơn buồn ngủ. Một lát sau, cậu thấy em gái từ trong phòng bước ra rồi đi về phía chuồng gia súc. Thế nhưng, dưới vạt váy của em gái lại thấy ló ra một cái đuôi cáo. Cô em gái vào chuồng, xé toạc bụng con bò, moi lá gan ra ăn. Nhìn thấy cảnh tượng đó, người con thứ ba sợ đến nỗi cả người run lẩy bẩy. Hôm sau, người con thứ ba kể lại chuyện này cho cha nghe nhưng người cha không tin.
“우리가 네 동생만 예뻐한다고 네가 네 누이동생을 질투해서 거짓말을 하고 있구나! 나쁜 놈, 당장 이 집에서 나가라!”
“Chẳng qua là mày ghen tị với em gái vì cha mẹ chỉ cưng chiều nó nên mày mới bịa chuyện chứ gì! Thằng hư đốn, cút ngay khỏi nhà này!”
셋째 아들은 집을 나와 길을 걷다가 동네 아이들이 거북이를 괴롭히고 있는 것을 보았습니다. 셋째 아들은 거북이가 불쌍해서 아이들에게서 그 거북이를 샀습니다. 그러고는 바닷가에 가서 거북이를 놓아주었습니다. 잠시 후 바다에서 하얀 말이 한 마리 나와 셋째 아들을 태우고 용왕에게 갔습니다. 용왕은 셋째 아들에게 말했습니다.
Người con thứ ba rời khỏi nhà, đang đi trên đường thì thấy lũ trẻ trong làng đang hành hạ một con rùa. Thấy con rùa đáng thương, cậu bèn mua lại con rùa từ tay lũ trẻ. Sau đó, cậu ra bờ biển thả con rùa đi. Một lát sau, từ dưới biển hiện lên một con ngựa trắng, chở người con thứ ba đến chỗ Long Vương. Long Vương nói với cậu:
“네가 구해 준 거북이가 내 딸이다. 네가 갈 곳이 없다는 것을 알고 있다. 마침 내 딸도 너를 마음에 들어하니 내 딸과 결혼해서 용궁에서 살아도 좋다.”
“Con rùa mà ngươi cứu chính là con gái ta. Ta biết ngươi không còn nơi nào để đi. Vừa hay con gái ta cũng đem lòng ưng ngươi, vậy ngươi hãy cưới con gái ta và sống ở Long cung cũng được.”
셋째 아들은 용왕의 딸과 결혼하고 용궁에서 살 수 있게 되어서 기뻤지만 가족들이 걱정되었습니다. 그래서 며칠 뒤 가족들을 만나러 가기로 했습니다. 용왕의 딸은 남편에게 작은 물병 세 개를 주며 무슨 일이 생기면 물병을 던지라고 말했습니다.
Người con thứ ba vui mừng vì được cưới con gái Long Vương và được sống ở Long cung, nhưng lòng vẫn lo lắng cho gia đình. Thế là mấy ngày sau, cậu quyết định trở về thăm nhà. Con gái Long Vương đưa cho chồng ba bình nước nhỏ và dặn rằng nếu có chuyện gì xảy ra thì hãy ném những bình nước ấy đi.
셋째 아들은 용왕의 하얀 말을 타고 집으로 돌아왔습니다. 그런데 집이 며칠 만에 너무 낡아 있었습니다. 그 많던 동물들은 한 마리도 보이지 않고 가족들도 아무도 없었습니다. 여우 누이가 가족과 동물들을 모두 잡아먹은 것이었습니다. 그때 누이가 나타났습니다. 셋째 아들은 누이가 여우라는 것을 알고 있었기 때문에 용왕이 빌려준 하얀 말을 타고 도망을 쳤습니다. 누이는 여우로 변신해서 셋째 아들을 잡으러 왔습니다. 셋째가 하얀 물병을 던지자 가시덤불이 나와 여우를 감쌌습니다. 그때 셋째 아들이 도망을 쳤는데 여우가 어느새 따라왔습니다. 이번에는 파란 물병을 던졌습니다. 그러자 많은 물이 쏟아져 나와서 여우가 물에 빠졌습니다. 셋째 아들은 계속 도망쳤습니다. 이번에도 어느새 여우가 따라와서 셋째 아들의 옷을 잡으려고 했습니다. 셋째 아들은 재빨리 빨간 물병을 던졌습니다. 그러자 불길이 여우를 감쌌고 여우는 불에 타 죽으면서 말했습니다.
Người con thứ ba cưỡi con ngựa trắng của Long Vương trở về nhà. Thế nhưng, chỉ mới mấy ngày mà ngôi nhà đã trở nên tàn tạ, xiêu vẹo. Đàn vật nuôi đông đúc ngày nào giờ chẳng còn lấy một con, người trong nhà cũng chẳng còn ai. Thì ra người em gái cáo đã ăn thịt hết cả gia đình lẫn đàn gia súc. Vừa lúc đó, người em gái xuất hiện. Vì đã biết em gái mình là cáo nên người con thứ ba nhảy lên con ngựa trắng Long Vương cho mượn mà bỏ chạy. Cô em gái biến thành cáo, đuổi theo để bắt người con thứ ba. Cậu ném bình nước màu trắng, lập tức một bụi gai mọc lên quấn chặt lấy con cáo. Nhân lúc đó cậu chạy tiếp, nhưng con cáo chẳng mấy chốc đã đuổi kịp. Lần này cậu ném bình nước màu xanh. Thế là nước tuôn ra ào ạt khiến con cáo rơi xuống nước. Người con thứ ba tiếp tục chạy trốn. Lần này cũng vậy, con cáo lại đuổi kịp và toan túm lấy áo cậu. Người con thứ ba nhanh tay ném bình nước màu đỏ. Lập tức, ngọn lửa bùng lên bao trùm lấy con cáo, và con cáo vừa cháy vừa nói:
“간을 하나만 더 먹으면 사람이 될 수 있었는데, 아깝다.”
“Chỉ cần ăn thêm một lá gan nữa thôi là ta đã thành người rồi, tiếc thật.”
그 후 셋째 아들은 집으로 돌아가 가족들의 제사를 지내 주었습니다. 그리고 용궁으로 돌아가 아내와 행복하게 살았답니다.
Sau đó, người con thứ ba trở về nhà làm lễ cúng giỗ cho gia đình. Rồi cậu quay lại Long cung, sống hạnh phúc bên người vợ của mình.
Từ vựng
| 멀쩡하다 | lành lặn, khỏe mạnh, nguyên vẹn |
| 지켜보다 | canh chừng, trông chừng |
| 두렵다 | sợ hãi |
| 볶다 | rang |
| 콩 | đậu |
| 쫓다 | đuổi, xua đi |
| 밝히다 | làm sáng tỏ, tìm ra |
| 꼬리 | đuôi |
| 가르다 | xé, rạch |
| 간 | gan |
| 질투하다 | ghen tị |
| 놈 | thằng, gã (cách gọi coi thường đàn ông, con trai) |
| 거북이 | con rùa |
| 괴롭히다 | hành hạ, bắt nạt |
| 용궁 | Long cung (cung điện của Long Vương) |
| 변신하다 | biến hình, hóa thành |
| 가시덤불 | bụi gai |
| 감싸다 | quấn lấy, bao bọc |
| 불길 | ngọn lửa |
| 제사 | lễ cúng giỗ |
Câu hỏi
1.외양간의 소는 누가 죽였습니까?
Ai đã giết con bò trong chuồng gia súc?
2.용왕의 딸이 남편에게 준 물건은 무엇입니까?
Con gái Long Vương đã đưa cho chồng vật gì?
Xem đáp án
①여우 누이가 죽었습니다.
Người em gái cáo đã giết.
②하얀 물병, 파란 물병, 빨간 물병입니다.
Đó là bình nước màu trắng, bình nước màu xanh và bình nước màu đỏ.
Đang tải audio… 0%