38. 짧아진 바지
Chiếc quần bị ngắn đi
옛날 어느 마을에 큰 부자가 살고 있었습니다. 이 부자에게는 세 딸이 있었습니다. 딸들은 서로 자기가 아버지를 더 잘 모실 수 있다고 말했습니다. 첫째 딸이 말했습니다.
Ngày xưa, ở một ngôi làng nọ có một người rất giàu có. Người giàu này có ba cô con gái. Các cô con gái đều tranh nhau nói rằng mình có thể phụng dưỡng cha tốt hơn. Cô con gái cả nói:
“제가 아버지와 가장 오래 살았잖아요. 그러니 제가 아버지를 제일 잘 모실 수 있을 거예요. 나중에 아버지 재산은 저한테 제일 많이 주셔야 해요. 알았죠?”
“Con là người sống với cha lâu nhất mà. Vậy nên con sẽ phụng dưỡng cha tốt nhất. Sau này cha phải chia gia sản cho con nhiều nhất đấy. Cha biết chưa?”
둘째 딸이 말했습니다.
Cô con gái thứ hai nói:
“저는 아버지를 위해서라면 뭐든지 다 할 수 있어요. 그러니 저한테 재산을 많이 주세요.”
“Vì cha thì con làm gì cũng được hết. Vậy nên cha hãy cho con thật nhiều gia sản.”
셋째 딸이 말했습니다.
Cô con gái út nói:
”아버지, 저는 평생 결혼도 하지 않고 아버지를 모시고 살 거예요. 그러니 저에게 재산을 많이 주셔야죠.”
“Cha ơi, cả đời này con sẽ không lấy chồng mà ở bên phụng dưỡng cha. Vậy nên cha phải cho con nhiều gia sản chứ.”
세 딸이 서로 경쟁하듯이 자신을 모시겠다고 하니 큰 부자는 아주 기분이 좋았습니다. 그러던 어느 날 부자는 이웃 동네 선비의 딸들이 아주 효녀라는 이야기를 들었습니다. 부자는 그 선비의 딸들이 자신의 딸들보다 더 효녀인지 궁금했습니다. 그래서 부자는 사람들에게 길을 물어 선비의 집을 찾아갔습니다. 그런데 부자를 맞이하는 선비를 보니 무릎이 다 보이도록 짧은 바지를 입고 있었습니다.
Thấy ba cô con gái như thi nhau nói sẽ phụng dưỡng mình, người giàu rất lấy làm vui lòng. Rồi một ngày nọ, ông nghe được câu chuyện rằng mấy cô con gái của một vị nho sĩ ở làng bên là những người con gái rất có hiếu. Người giàu tò mò không biết các cô con gái của vị nho sĩ ấy có hiếu thảo hơn con gái mình không. Thế là ông hỏi đường người trong làng rồi tìm đến nhà vị nho sĩ. Nhưng khi nhìn vị nho sĩ ra đón mình, ông thấy nho sĩ đang mặc một chiếc quần ngắn đến mức lộ cả đầu gối.
“아니, 왜 그렇게 짧은 바지를 입고 있습니까?”
“Ơ kìa, sao ngài lại mặc chiếc quần ngắn như thế?”
선비는 얼굴에 미소를 띠며 딸들과 있었던 일을 이야기하기 시작했습니다.
Vị nho sĩ mỉm cười rồi bắt đầu kể lại chuyện đã xảy ra với các cô con gái của mình.
얼마 전에 선비는 바지 한 벌을 샀습니다. 그런데 바지가 너무 길었습니다. 그래서 선비는 딸들에게 말했습니다.
Cách đây không lâu, vị nho sĩ mua một chiếc quần. Nhưng chiếc quần lại quá dài. Thế là vị nho sĩ nói với các con gái:
“누가 바지를 한 뼘만 줄여 줬으면 좋겠구나!”
“Giá mà có ai đó cắt ngắn chiếc quần này đi một gang tay thì tốt biết mấy!”
“네, 아버지.”
“Vâng, thưa cha.”
세 딸은 모두 대답했습니다. 다음 날 선비가 바지를 입어 보았는데 바지가 너무 짧아져서 무릎이 다 보였습니다. 선비는 딸들에게 바지가 왜 이렇게 짧은지 이유를 물었습니다. 그러자 첫째 딸이 먼저 대답을 했습니다.
Cả ba cô con gái đều đáp. Hôm sau, vị nho sĩ mặc thử chiếc quần thì thấy quần ngắn đến nỗi lộ cả đầu gối. Vị nho sĩ hỏi các con gái xem vì sao quần lại ngắn đến thế. Cô con gái cả liền trả lời trước:
“어제 저녁에 분명히 한 뼘만 줄였는데요. 이상하네요.”
“Tối qua con cắt ngắn đúng một gang tay mà. Lạ thật đấy.”
둘째 딸이 당황하며 말했습니다.
Cô con gái thứ hai bối rối nói:
“어머, 언니가 한 줄 모르고 어젯밤에 저도 줄여 놓았어요. 죄송해요. 아버지.”
“Ôi trời, con không biết là chị đã cắt nên đêm qua con cũng cắt ngắn rồi. Con xin lỗi cha.”
셋째 딸이 미안해하며 말했습니다.
Cô con gái út áy náy nói:
“어떡해요. 언니들이 줄인 줄 모르고 저도 아침에 줄였어요. 죄송해요. 아버지.”
“Làm sao bây giờ. Con không biết các chị đã cắt nên sáng nay con cũng cắt rồi. Con xin lỗi cha.”
선비는 이 이야기를 듣고 괜찮다며 웃었습니다.
Nghe xong câu chuyện, vị nho sĩ chỉ cười bảo không sao.
선비의 이야기를 모두 듣고 집으로 돌아온 부자는 딸들을 불렀습니다.
Nghe hết câu chuyện của vị nho sĩ, người giàu trở về nhà và gọi các con gái lại.
“이 바지가 좀 길구나. 누가 이 바지를 한 뼘만 줄여 줬으면 좋겠구나.”
“Chiếc quần này hơi dài. Giá mà có ai đó cắt ngắn chiếc quần này đi một gang tay thì tốt biết mấy.”
“네, 아버지.” 하고 세 딸이 모두 대답했습니다.
“Vâng, thưa cha.” Cả ba cô con gái đều đáp.
다음 날, 부자가 바지를 확인해 보니 바지가 그대로였습니다. 부자는 딸들을 불러서 왜 바지를 줄이지 않았는지 물었습니다. 그러자 첫째 딸이 둘째 핑계를 대며 말했습니다.
Hôm sau, người giàu xem lại chiếc quần thì thấy nó vẫn y nguyên. Ông gọi các con gái đến và hỏi vì sao không cắt ngắn quần. Thế là cô con gái cả viện cớ, đổ cho cô con gái thứ hai:
“둘째야, 너 왜 바지를 줄이지 않았니?”
“Em hai, sao em không cắt ngắn quần cho cha?”
“나는 언니가 바지를 줄일 줄 알았지. 난 바느질이 서툴다고. 셋째야, 너는 바지를 줄이지 않고 뭐 했니?”
“Em cứ tưởng chị sẽ cắt chứ. Em vụng may vá lắm. Út ơi, em không cắt quần thì em làm gì thế?”
첫째 딸과 둘째 딸의 말을 들은 부자는 점점 얼굴이 굳어졌습니다.
Nghe lời của cô con gái cả và cô con gái thứ hai, mặt người giàu cứ dần đanh lại.
“나는 바느질을 할 줄도 모르는데 어떻게 해. 당연히 바느질은 언니들이 해야지.”
“Em có biết may vá đâu mà làm. Chuyện may vá thì đương nhiên là các chị phải làm chứ.”
세 딸들은 아버지가 시킨 일을 서로 미루기만 하고 하지 않은 것이었습니다.
Hóa ra ba cô con gái chỉ đùn đẩy cho nhau việc cha sai bảo chứ chẳng ai làm cả.
“그만 해라!”
“Thôi đi!”
부자는 딸들이 아버지 앞에서 서로 다투는 모습을 보고 실망했습니다. 부자의 딸들은 말로는 그토록 잘하겠다고 하더니 실제로는 하지 않고 각종 변명을 늘어놓았기 때문입니다. 부자는 그제야 마을 사람들이 왜 선비의 딸들을 진짜 효녀라고 했는지 알게 되었습니다.
Người giàu thất vọng khi thấy các con gái cãi vã nhau ngay trước mặt cha. Bởi vì các cô con gái của ông chỉ nói miệng là sẽ làm thật tốt, còn thực tế thì chẳng làm gì mà chỉ bày ra đủ mọi lời biện bạch. Đến lúc đó người giàu mới hiểu vì sao dân làng lại nói các cô con gái của vị nho sĩ mới là những người con gái hiếu thảo thật sự.
Từ vựng
| 평생 | cả đời, suốt đời |
| 경쟁하다 | cạnh tranh, ganh đua |
| 효녀 | người con gái hiếu thảo |
| 맞이하다 | đón tiếp, nghênh đón |
| 무릎 | đầu gối |
| 미소 | nụ cười |
| 띠다 | (nét mặt) lộ ra, mang (vẻ) |
| 뼘 | gang tay (đơn vị đo bằng một gang bàn tay) |
| 줄이다 | cắt ngắn, thu ngắn |
| 핑계 | cái cớ, lý do bao biện |
| (핑계를) 대다 | viện (cớ) |
| 바느질 | việc may vá |
| 서툴다 | vụng về, không thạo |
| 굳어지다 | cứng lại, đanh lại |
| 미루다 | đùn đẩy, trì hoãn |
| 다투다 | cãi nhau |
| 실망하다 | thất vọng |
| 그토록 | đến mức ấy, biết bao nhiêu |
| 각종 | đủ loại, các loại |
| 변명 | lời biện bạch, lời bào chữa |
| 늘어놓다 | bày ra, nói ra (lời biện bạch) |
Câu hỏi
1.부자와 선비의 딸들 중에서 누가 진짜 효녀입니까?
Giữa các cô con gái của người giàu và các cô con gái của vị nho sĩ, ai mới là người con gái hiếu thảo thật sự?
2.선비의 바지는 왜 짧아졌습니까?
Vì sao chiếc quần của vị nho sĩ lại bị ngắn đi?
Xem đáp án
①선비의 딸들이 진짜 효녀입니다.
Các cô con gái của vị nho sĩ mới là những người con gái hiếu thảo thật sự.
②선비의 세 딸들이 모두 한 뼘씩 아버지의 바지를 줄였기 때문입니다.
Vì cả ba cô con gái của vị nho sĩ đều cắt ngắn chiếc quần của cha mỗi người một gang tay.
Đang tải audio… 0%