50 truyện cổ tíchSong ngữ Hàn – Việt
Truyện 34 · B2 · trang 148-151
49 câu · ⭐ 0

34. 은혜 갚은 까치

Chim khách báo ân

옛날에 선비가 시험을 보러 서울에 가고 있었습니다. 서울에 가는 길은 멀어서 개의 산을 넘어가야 했습니다. 어느 선비가 산길을 걷고 있는데 까치 우는 소리가 시끄럽게 들렸습니다. 까치 우는 소리가 너무 커서 선비는 소리가 나는 곳을 찾아 두리번거렸습니다. 근처에 있는 나무 위에서 흥분한 까치 마리가 소리로 울면서 날고 있는 것이 보였습니다. 자세히 보니 뱀이 새끼 까치를 잡아먹으려고 나무 위로 올라가고 있었습니다.

Ngày xưa, có một nho sinh đang trên đường lên Seoul để đi thi. Đường lên Seoul khá xa, phải vượt qua mấy ngọn núi. Một hôm, khi nho sinh đang đi trên đường núi thì nghe thấy tiếng chim khách kêu inh ỏi. Tiếng chim khách kêu to đến mức nho sinh phải ngó nghiêng tìm xem tiếng phát ra từ đâu. Trên ngọn cây gần đó, chàng thấy hai con chim khách đang hoảng hốt vừa kêu lớn vừa bay lượn. Nhìn kỹ thì thấy một con rắn lớn đang bò lên cây để ăn thịt mấy con chim khách con.

“어, 저러다가 둥지에 있는 새끼 까치들이 죽겠구나.”

“Ôi, cứ thế này thì mấy con chim khách con trong tổ chết mất thôi.”

선비는 활을 쏘아 뱀을 죽이고 새끼 까치를 구해 주었습니다. 그리고 계속 길을 갔습니다. 어느덧 밤이 되어 선비는 만한 곳을 찾아야 했습니다.

Nho sinh bèn bắn tên giết chết con rắn và cứu lũ chim khách con. Rồi chàng lại tiếp tục lên đường. Chẳng mấy chốc trời đã tối, nho sinh phải tìm một nơi để nghỉ chân.

그런데 마침 멀리에서 불빛이 보였습니다. 불빛을 따라가 보니 거기에는 집이 하나 있었습니다. 선비는 반가운 마음에 문을 두드렸습니다.

Vừa lúc đó, chàng nhìn thấy ánh đèn từ đằng xa. Đi theo ánh đèn thì thấy ở đó có một ngôi nhà. Nho sinh mừng rỡ gõ cửa.

“계십니까? 아무도 계십니까?”

“Có ai không ạ? Không có ai ở nhà sao?”

잠시 예쁜 아가씨가 나왔습니다. 선비는 아가씨에게 부탁하며 말했습니다.

Một lát sau, một cô gái xinh đẹp bước ra. Nho sinh ngỏ lời nhờ cậy cô gái:

“날이 어두워져서 그러니 하룻밤만 재워 주시면 감사하겠습니다.”

“Trời đã tối rồi, nếu cô cho tôi ngủ nhờ một đêm thì tôi xin đội ơn.”

“차려 드릴 것은 없지만 들어오시지요.”

“Tuy chẳng có gì để thết đãi, nhưng mời chàng vào ạ.”

하루 종일 걸어서 피곤했던 선비는 방에 눕자마자 잠이 들었습니다. 그런데 얼마 선비는 숨이 막히고 답답해서 잠이 깼습니다. 선비가 눈을 보니까 뱀이 선비의 몸을 감고 선비를 노려보고 있었습니다. 뱀이 선비에게 말했습니다.

Nho sinh đi bộ suốt cả ngày nên mệt lử, vừa nằm xuống là ngủ thiếp đi. Nhưng một lúc sau, chàng nghẹt thở, tức ngực đến mức tỉnh giấc. Mở mắt ra, nho sinh thấy một con rắn lớn đang quấn quanh người mình và trừng trừng nhìn chàng. Con rắn nói với nho sinh:

“오늘 낮에 네가 죽인 뱀은 남편이다. 그러니 나는 남편의 복수를 것이다.”

“Con rắn mà ngươi giết ban ngày hôm nay là chồng ta. Vì vậy ta sẽ trả thù cho chồng.”

뱀이 입을 크게 벌리고 선비를 잡아먹으려고 했습니다. 선비는 꼼짝할 없었습니다. 그때 선비가 말했습니다.

Con rắn há to miệng định nuốt chửng nho sinh. Nho sinh không thể nhúc nhích được. Lúc ấy chàng nói:

“아, 남편을 죽인 것은 정말 미안하다. 하지만 남편이 새끼 까치를 잡아먹으려고 했어. 새끼 까치들하고 옆에서 울고 있는 엄마 까치가 불쌍해서 그런 거라고.”

“À, ta thật lòng xin lỗi vì đã giết chồng ngươi. Nhưng chồng ngươi đã định ăn thịt mấy con chim khách con. Ta chỉ vì thương lũ chim khách con và chim khách mẹ đang kêu khóc bên cạnh chúng mà thôi.”

뱀은 잠시 무언가 생각하다가 말했습니다.

Con rắn ngẫm nghĩ điều gì đó một lát rồi nói:

“어린 새끼 까치를 위해서 그런 것이라니 너에게 기회를 주겠다. 저기 보이는 산꼭대기에 있는 절에는 종이 하나 있다. 날이 밝기 전에 종소리가 울리면 하늘의 뜻으로 알고 너를 살려 주겠다.”

“Nếu ngươi làm vậy là vì lũ chim khách con thì ta sẽ cho ngươi một cơ hội. Trên đỉnh núi đằng kia có một ngôi chùa bỏ hoang, trong đó có một cái chuông. Nếu trước khi trời sáng mà chuông ngân lên ba lần thì ta sẽ xem đó là ý trời mà tha mạng cho ngươi.”

선비는 생각했습니다.

Nho sinh nghĩ thầm:

‘이 늦은 시간에 산속의 절에서 종이 울릴 리가 없어. 아, 이제 나는 죽겠구나.’

‘Giờ khuya thế này thì chuông ở ngôi chùa hoang trong núi làm sao mà kêu được. Ôi, phen này ta chết mất rồi.’

그런데 얼마 종이 울렸습니다.

Thế nhưng một lát sau, chuông ngân lên.

“댕, 댕, 댕.”

“Beng, beng, beng.”

종소리를 들은 뱀이 선비에게 말했습니다.

Nghe tiếng chuông, con rắn nói với nho sinh:

“하늘이 너를 도왔구나.”

“Trời đã cứu ngươi rồi.”

뱀은 약속대로 선비를 놓아 주었습니다.

Đúng như lời hứa, con rắn thả nho sinh ra.

‘이 밤에 산속에서 누가 종을 쳤을까?’

‘Đêm hôm thế này, ai lại đánh chuông trong núi nhỉ?’

선비는 궁금해서 산꼭대기의 절로 뛰어갔습니다. 그곳에는 엄마 까치가 머리에 피를 흘리며 죽어 있었습니다. 새끼를 살려 은혜를 갚은 것입니다. 선비는 까치를 묻어 주었습니다.

Nho sinh tò mò nên chạy đến ngôi chùa hoang trên đỉnh núi. Ở đó, chim khách mẹ nằm chết, đầu bê bết máu. Nó đã báo đáp ơn cứu mạng cho các con của mình. Nho sinh bèn chôn cất chim khách tử tế.

Từ vựng

khá, rất
넘어가다vượt qua, trèo qua
두리번거리다ngó nghiêng, nhìn quanh quất
흥분하다hoảng hốt, kích động
둥지tổ (chim)
cung, tên
쏘다bắn
(생명을) 구하다cứu (mạng sống)
어느덧chẳng mấy chốc, lúc nào không hay
불빛ánh đèn, ánh sáng
두드리다
종일cả ngày, suốt ngày
막히다nghẹt, tắc, khó thở
노려보다trừng mắt nhìn, lườm
복수trả thù, báo thù
벌리다há ra, mở rộng
산꼭대기đỉnh núi
절 (사찰)chùa
chuông
(종이) 울리다(chuông) ngân, reo

Câu hỏi

  1. 1.큰 뱀은 왜 선비를 죽이려고 했습니까?

    Vì sao con rắn lớn định giết nho sinh?

  2. 2.누가 왜 종을 쳤습니까?

    Ai đã đánh chuông và vì sao?

Xem đáp án
  1. 선비가 자신의 남편을 죽였기 때문입니다.

    Vì nho sinh đã giết chết chồng của nó.

  2. 엄마 까치가 새끼들을 살려 준 선비에게 은혜를 갚기 위해 종을 쳤습니다.

    Chim khách mẹ đã đánh chuông để báo ân cho nho sinh, người đã cứu sống các con của nó.

0:004:30
1.00×

Đang tải audio… 0%