50 truyện cổ tíchSong ngữ Hàn – Việt
Truyện 30 · B1 · trang 127-131
63 câu · ⭐ 0

30. 복에 산다

Con sống bằng phúc phần của con

옛날 어느 마을에 딸이 있는 부자 아버지가 있었습니다. 어느 아버지는 딸들을 불러서 물었습니다.

Ngày xửa ngày xưa, ở một ngôi làng nọ có một người cha giàu có với ba cô con gái. Một hôm, người cha gọi các con gái đến và hỏi.

“첫째야, 너는 누구 덕분에 먹고 살지?”

“Con gái cả, con nhờ ai mà được ăn ngon sống sướng thế này?”

“당연히 아버지 덕분에 살지요.”

“Dĩ nhiên là con sống sung sướng nhờ cha rồi ạ.”

아버지는 첫째 딸의 대답이 마음에 들었습니다. 곧이어 아버지는 둘째 딸에게도 물었습니다.

Người cha rất hài lòng với câu trả lời của cô con gái cả. Ngay sau đó, ông hỏi cô con gái thứ hai.

“둘째야, 너는 누구 덕분에 먹고 사느냐?”

“Con gái thứ, con nhờ ai mà được ăn ngon sống sướng?”

“그거야 아버지 덕분이지요.”

“Cái đó thì nhờ cha chứ ai ạ.”

아버지는 매우 기뻐했습니다. 이번에는 셋째 딸에게 물었습니다.

Người cha vô cùng vui mừng. Lần này ông hỏi cô con gái thứ ba.

“셋째야, 너는 누구 덕분에 먹고 살지?”

“Con gái út, con nhờ ai mà được ăn ngon sống sướng?”

“제 복에 살지요.”

“Con sống sung sướng nhờ phúc phần của con ạ.”

셋째의 대답을 들은 아버지는 화가 났습니다.

Nghe câu trả lời của cô con gái út, người cha nổi giận.

“뭐라고? 네가 지금까지 누구 덕분에 편안하게 살았는데 그걸 모른단 말이냐? 되겠구나. 네가 밖에 나가서 고생 하고 굶어 봐야 정신을 차리겠구나. 집에서 당장 나가라.”

“Con nói cái gì? Từ trước đến nay con nhờ ai mà sống yên ổn thế, mà con lại không biết ư? Không được rồi. Con phải ra ngoài chịu khổ, chịu đói một phen mới tỉnh ra được. Hãy rời khỏi nhà ta ngay lập tức.”

아버지는 화를 내며 셋째 딸을 대문 밖으로 냉정하게 쫓아냈습니다.

Người cha nổi giận, lạnh lùng đuổi cô con gái út ra khỏi cổng nhà.

“그래, 어디 복으로 살아 봐라.”

“Được, thì cứ thử sống sung sướng bằng phúc phần của con xem sao.”

집을 나온 셋째 딸은 곳이 없었습니다. 그저 길을 따라가다가 어느 산의 낡은 앞에 왔습니다. 집에서는 할머니가 밥을 하고 있었습니다. 할머니가 셋째를 보고 말했습니다.

Rời khỏi nhà, cô con gái út chẳng có nơi nào để đi. Cô cứ men theo đường mà đi, rồi đến trước một ngôi nhà cũ kỹ trên một ngọn núi nọ. Trong nhà, một bà lão đang nấu cơm. Bà lão nhìn thấy cô út rồi nói.

“어휴, 날이 어두워지는데 산에서 아가씨 혼자 다니면 위험해요.”

“Ôi chao, trời sắp tối rồi mà cô gái đi một mình trong núi thế này thì nguy hiểm lắm.”

“네, 그런데 저는 곳이 없어요.”

“Vâng, nhưng cháu chẳng có nơi nào để đi cả ạ.”

할머니는 셋째의 이야기를 듣고 말했습니다.

Bà lão nghe chuyện của cô út rồi nói.

“아이고, 불쌍해라. 그럼, 우리 집에서 같이 살아요.”

“Ôi trời, tội nghiệp quá. Vậy thì cứ ở lại sống cùng nhà bà đi.”

셋째는 집에서 살다가 할머니의 아들과 정이 들어서 결혼하게 되었습니다. 할머니의 아들은 숯을 굽는 사람이었습니다. 하루는 셋째가 남편을 따라 남편이 일하는 곳에 갔습니다. 셋째는 남편이 숯을 구울 사용하는 숯가마의 돌을 보고 깜짝 놀랐습니다. 때문에 까맣기는 했지만 자세히 보니 일반 돌이 아니라 분명히 금덩이였습니다.

Cô út sống trong ngôi nhà đó, rồi nảy sinh tình cảm với con trai bà lão và nên duyên vợ chồng. Con trai bà lão là người làm nghề đốt than. Một hôm, cô út theo chồng đến nơi chồng làm việc. Cô út nhìn thấy những hòn đá trong lò than mà chồng dùng để đốt than thì giật mình kinh ngạc. Tuy chúng đen sì vì than, nhưng nhìn kỹ thì đó không phải đá thường mà rõ ràng là những khối vàng.

“여기에 있는 돌들은 금이에요! 모두 집으로 가져가요.”

“Mấy hòn đá ở đây đều là vàng cả đấy! Mình mang hết về nhà đi.”

남편은 그것이 금인지, 금이 얼마나 비싼 것인지 몰랐습니다. 셋째 딸은 남편에게 금덩이를 하나 주면서 말했습니다.

Người chồng không biết đó là vàng, cũng không biết vàng đắt đến mức nào. Cô con gái út đưa cho chồng một khối vàng rồi nói.

“이걸 시장에서 팔아 오세요. 만약 누가 얼마냐고 물으면 제값에 달라고 하세요.”

“Mình mang cái này ra chợ bán đi. Nếu có ai hỏi giá bao nhiêu thì mình cứ bảo họ trả đúng giá của nó.”

남편은 곧장 시장에 가서 하나를 내려놓고 앉았습니다. 시간이 지나자 어떤 사람이 와서 얼마냐고 물었습니다. 그래서 아내가 알려 대로 말했습니다.

Người chồng đi thẳng ra chợ, đặt khối vàng xuống rồi ngồi đợi. Một lúc sau, có người đến hỏi giá bao nhiêu. Thế là anh nói đúng như lời vợ dặn.

“제값에 주십시오.”

“Xin ông cứ trả đúng giá của nó.”

그러자 사람은 많은 돈을 내고 금을 가져갔습니다. 남편은 신나서 집으로 돌아왔습니다. 이렇게 금을 하나씩 팔아 금방 부자가 되었습니다.

Thế là người ấy trả rất nhiều tiền rồi mang vàng đi. Người chồng hớn hở trở về nhà. Cứ thế, họ bán dần từng khối vàng và chẳng mấy chốc trở nên giàu có.

그런데 셋째 딸을 집에서 쫓아낸 아버지와 가족들은 점점 가난해졌습니다. 아버지는 결국 거지가 되어 여기저기 돌아다니다가 셋째 딸의 집까지 오게 되었습니다.

Thế nhưng người cha và gia đình đã đuổi cô con gái út ra khỏi nhà thì ngày càng nghèo đi. Cuối cùng người cha trở thành kẻ ăn mày, lang thang khắp nơi, rồi đến tận nhà cô con gái út.

“밥 주세요. 제발 주세요.”

“Xin cho tôi chút cơm. Xin làm ơn cho tôi chút cơm.”

대문을 열고 들어오는 아버지를 셋째 딸은 첫눈에 알아보았습니다. 셋째 딸은 방에서 나와 아버지를 불렀습니다.

Cô con gái út vừa thoáng nhìn đã nhận ra người cha đang mở cổng bước vào. Cô út từ trong phòng bước ra gọi cha.

“아버지!”

“Cha ơi!”

아버지가 깜짝 놀라서 보니 진짜 셋째 딸이 맞았습니다. 셋째는 아버지에게 좋은 음식을 차려 주었습니다. 아버지는 그때 알았습니다.

Người cha giật mình nhìn lại thì đúng là cô con gái út thật. Cô út dọn cho cha những món ăn ngon. Lúc ấy người cha mới hiểu ra.

“그래, 나는 너를 버리고 벌을 받아서 거지가 되었는데 너는 복에 살고 있었구나. 내가 너를 오해하고 미워했구나. 미안하다.”

“Phải rồi, ta bỏ rơi con nên bị trừng phạt mà thành kẻ ăn mày, còn con thì vẫn sống sung sướng bằng phúc phần của mình. Ta đã hiểu lầm con và ghét bỏ con. Cha xin lỗi con.”

아버지는 셋째 딸에 대한 나쁜 마음이 녹듯이 사라졌습니다. 후로 셋째 딸은 아버지를 모시고 행복하게 살았습니다.

Lòng oán giận của người cha đối với cô con gái út tan biến như tuyết tan. Từ đó về sau, cô con gái út phụng dưỡng cha và sống hạnh phúc.

Từ vựng

곧이어ngay sau đó
고생nỗi khổ cực
정신tinh thần, thần trí
화를 내다nổi giận
대문cổng chính
쫓아내다đuổi ra
그저chỉ, cứ thế
위험하다nguy hiểm
tình cảm
굽다đốt (than), nướng
* 숯가마lò than
đá
까맣다đen
일반thông thường
제값đúng giá
곧장đi thẳng, ngay lập tức
거지kẻ ăn mày
벌 (받다)hình phạt (bị phạt)
미워하다ghét
녹다tan chảy

Câu hỏi

  1. 1.누구 덕에 잘 먹고 잘 사느냐는 아버지의 질문에 셋째 딸은 뭐라고 대답했습니까?

    Trước câu hỏi của người cha rằng con nhờ ai mà được ăn ngon sống sướng, cô con gái út đã trả lời thế nào?

  2. 2.숯을 굽는 총각은 금을 팔 때 뭐라고 말해서 많은 돈을 벌었습니까?

    Chàng trai đốt than đã nói gì khi bán vàng mà kiếm được nhiều tiền?

Xem đáp án
  1. 자기 복에 잘 산다고 말했습니다.

    Cô nói rằng mình sống sung sướng nhờ phúc phần của chính mình.

  2. 제값에 달라고 말해서 많은 돈을 벌었습니다.

    Anh nói hãy trả đúng giá của nó nên đã kiếm được nhiều tiền.

0:005:08
1.00×

Đang tải audio… 0%