28. 해와 달이 된 오누이
Hai anh em trở thành mặt trời và mặt trăng
옛날 어느 산에 떡을 파는 어머니와 오누이가 함께 살고 있었습니다. 어느 날 어머니가 떡을 팔고 집으로 돌아오는 길에 호랑이를 만났습니다. 호랑이가 어머니에게 말했습니다.
Ngày xửa ngày xưa, ở một ngọn núi nọ có một người mẹ bán bánh tteok sống cùng hai anh em. Một hôm, trên đường bán bánh xong trở về nhà, người mẹ gặp một con hổ. Con hổ nói với người mẹ:
“어흥~ 그 바구니에 뭐가 들어있지?”
“Gừừ~ Trong cái giỏ đó có gì vậy?”
어머니는 너무 무서워서 목소리가 떨렸습니다.
Người mẹ sợ quá nên giọng nói run rẩy.
“이, 이건 떡, 떡이에요.”
“Đ-đây là bánh, bánh tteok ạ.”
“그래? 떡 하나 주면 안 잡아먹지.”
“Thế à? Cho ta một cái bánh thì ta không ăn thịt ngươi.”
어머니는 얼른 떡을 던져 주고 도망갔습니다. 호랑이는 떡을 먹고 따라와서 또 말했습니다.
Người mẹ vội ném cho nó một cái bánh rồi bỏ chạy. Con hổ ăn xong cái bánh liền đuổi theo và lại nói:
“떡 하나 주면 안 잡아먹지.”
“Cho ta một cái bánh thì ta không ăn thịt ngươi.”
어머니는 이번에도 떡을 던져 주고 도망을 갔습니다. 하지만 어느새 호랑이는 어머니 앞에 와 있었습니다.
Lần này người mẹ cũng ném cho nó một cái bánh rồi bỏ chạy. Nhưng chẳng mấy chốc con hổ đã đứng chắn trước mặt bà.
“떡 하나 주면 안 잡아먹지.”
“Cho ta một cái bánh thì ta không ăn thịt ngươi.”
그런데 이번에는 남은 떡이 없었습니다. 어머니는 말했습니다.
Thế nhưng lần này thì chẳng còn cái bánh nào nữa. Người mẹ nói:
“호랑이님, 제발 살려 주세요. 집에서 아이들이 기다리고 있어요. 제발요.”
“Hổ ơi, xin hãy tha mạng cho tôi. Ở nhà các con tôi đang chờ. Xin ngài đấy.”
어머니가 간절히 부탁했지만 호랑이는 냉정하게 말했습니다.
Người mẹ tha thiết van xin nhưng con hổ vẫn lạnh lùng nói:
“오, 그래? 하지만 떡이 없으니 어쩔 수 없어. 널 잡아먹어야겠다.”
“Ồ, vậy sao? Nhưng không có bánh thì cũng đành chịu thôi. Ta phải ăn thịt ngươi.”
호랑이는 어머니를 잡아먹었습니다. 그리고 생각했습니다.
Con hổ ăn thịt người mẹ. Rồi nó nghĩ:
‘집에 아이들이 있다고 했으니 아이들도 잡아먹을 수 있겠군.’
‘Mụ ta bảo ở nhà có mấy đứa nhỏ, vậy thì mình có thể ăn thịt lũ trẻ nữa.’
호랑이는 어머니의 옷을 입었습니다. 그리고는 아이들이 기다리고 있는 집으로 갔습니다. 집에 도착한 호랑이가 말했습니다.
Con hổ mặc áo của người mẹ vào. Rồi nó tìm đến ngôi nhà nơi hai đứa trẻ đang chờ. Đến nơi, con hổ nói:
“얘들아, 엄마 왔다. 문 열어라.”
“Các con ơi, mẹ về rồi đây. Mở cửa ra nào.”
“엄마, 목소리가 이상해요. 왜 그래요?”
“Mẹ ơi, giọng mẹ lạ quá. Mẹ sao thế ạ?”
“날이 추워서 목이 쉬어서 그래.”
“Tại trời lạnh nên mẹ bị khản giọng đấy mà.”
오누이는 문틈으로 밖을 보았습니다. 밖에는 호랑이가 엄마의 옷을 입고 서 있었습니다. 그런데 엄마의 옷에 피가 묻어 있었습니다. 오누이는 조용히 창밖으로 나와 우물 옆 나무로 올라갔습니다. 밖에서 기다리던 호랑이가 힘으로 문을 열며 말했습니다.
Hai anh em nhìn ra ngoài qua khe cửa. Bên ngoài, con hổ đang mặc áo của mẹ đứng đó. Mà trên áo của mẹ lại dính đầy máu. Hai anh em lặng lẽ trèo ra ngoài cửa sổ rồi leo lên cái cây bên cạnh giếng nước. Con hổ đợi mãi ngoài cửa liền dùng sức phá cửa xông vào và nói:
“너희들 엄마한테 혼 좀 나야겠구나!”
“Các con phải bị mẹ phạt một trận mới được!”
하지만 오누이는 방 안에 없었습니다. 호랑이는 여기저기 오누이를 찾아다녔습니다. 그런데 우물에 아이들의 모습이 보였습니다. 호랑이는 오누이가 우물 안에 있다고 생각했습니다.
Nhưng hai anh em không có trong phòng. Con hổ đi lùng sục khắp nơi tìm hai đứa trẻ. Thế rồi nó thấy bóng hai đứa trẻ hiện trong giếng nước. Con hổ tưởng hai anh em đang ở dưới giếng.
“얘들아, 거기 어떻게 들어갔니?”
“Các con ơi, làm sao mà các con vào được trong đó thế?”
나무 위에 앉아 있던 동생은 호랑이가 바보 같아서 웃었습니다. 동생이 웃는 소리를 들은 호랑이는 오누이가 나무 위에 있다는 것을 알고 나무 위로 올라가려고 했습니다. 그러자 오빠가 말했습니다.
Cô em gái đang ngồi trên cây thấy con hổ ngốc nghếch quá nên bật cười. Nghe tiếng cười của cô em, con hổ biết hai anh em đang ở trên cây nên định trèo lên. Thế là người anh nói:
“손에 참기름을 바르면 쉽게 올라올 수 있어.”
“Bôi dầu mè vào tay thì sẽ leo lên dễ dàng đấy.”
호랑이는 손에 참기름을 바르고 올라가려고 했지만 미끄러워서 올라갈 수 없었습니다. 호랑이가 나무에서 계속 미끄러지는 모습을 본 동생이 웃으며 말했습니다.
Con hổ bôi dầu mè vào tay rồi định trèo lên, nhưng trơn quá nên không sao leo được. Thấy con hổ cứ trượt xuống mãi, cô em gái cười và nói:
“바보야, 도끼로 찍으면서 올라와야지.”
“Đồ ngốc, phải bổ rìu vào thân cây mà leo lên chứ.”
호랑이는 그 말을 듣고 도끼로 찍으면서 나무에 올라왔습니다. 아이들은 무서워서 나무 꼭대기까지 올라갔습니다. 호랑이는 계속 올라오고 있는데 이제 더 이상 도망갈 곳이 없었습니다. 그래서 아이들은 기도했습니다.
Nghe vậy, con hổ lấy rìu bổ vào thân cây mà trèo lên. Hai đứa trẻ sợ quá nên leo lên tận ngọn cây. Con hổ thì cứ leo lên mãi, mà giờ đây chẳng còn chỗ nào để chạy trốn nữa. Thế là hai đứa trẻ cầu nguyện:
“하느님, 살려 주세요. 저희를 위해서 동아줄을 내려 주세요.”
“Trời ơi, xin hãy cứu chúng con. Xin hãy thả dây thừng xuống cho chúng con.”
그러자 정말로 하늘에서 굵은 동아줄이 내려왔습니다. 아이들은 동아줄을 잡고 하늘로 올라갔습니다. 나무 꼭대기로 올라온 호랑이도 기도했습니다.
Thế rồi từ trên trời, một sợi dây thừng to thật sự thả xuống. Hai đứa trẻ nắm lấy dây thừng mà lên trời. Con hổ trèo được lên tới ngọn cây cũng cầu nguyện:
“하느님, 저에게도 동아줄을 내려 주세요.”
“Trời ơi, xin hãy thả dây thừng xuống cho con với.”
이번에도 하늘에서 동아줄이 내려왔습니다. 그런데 이 동아줄은 썩은 동아줄이었습니다. 그래서 호랑이가 잡은 동아줄이 하늘로 올라가다가 끊어져 버렸습니다. 결국 호랑이는 땅으로 떨어져 죽었습니다. 그 후 하늘로 올라간 동생은 해가 되고 오빠는 달이 되었다고 합니다.
Lần này cũng có một sợi dây thừng từ trên trời thả xuống. Nhưng sợi dây thừng này là một sợi dây mục. Vì thế sợi dây thừng mà con hổ nắm lấy đang lên trời thì đứt phựt. Cuối cùng, con hổ rơi xuống đất mà chết. Người ta kể rằng sau đó, cô em gái lên trời trở thành mặt trời, còn người anh trở thành mặt trăng.
Từ vựng
| 떡 | bánh tteok (bánh gạo) |
| 우물 | giếng nước |
| 바구니 | giỏ, rổ |
| 바보 | kẻ ngốc, đồ ngốc |
| 어느새 | chẳng mấy chốc, lúc nào không hay |
| 참기름 | dầu mè |
| 살리다 | cứu sống, tha mạng |
| 미끄럽다 | trơn, trượt |
| 냉정하다 | lạnh lùng, lạnh nhạt |
| 찍다 | bổ, chém (bằng rìu) |
| 오 | Ồ (tiếng cảm thán) |
| 꼭대기 | đỉnh, ngọn |
| (목이) 쉬다 | khản (giọng) |
| 기도하다 | cầu nguyện |
| 틈 | khe, kẽ hở |
| 동아줄 | dây thừng |
| 묻다 | dính, bám |
| 썩다 | mục, thối |
| 창밖 | bên ngoài cửa sổ |
| 끊어지다 | đứt, bị cắt đứt |
Câu hỏi
1.호랑이는 아이들의 어머니를 만났을 때 뭐라고 약속했습니까?
Khi gặp mẹ của hai đứa trẻ, con hổ đã hứa điều gì?
2.호랑이는 어떻게 나무 위에 올라갔습니까?
Con hổ đã leo lên cây bằng cách nào?
Xem đáp án
①떡 하나 주면 안 잡아먹는다고 약속했습니다.
Nó hứa rằng nếu cho nó một cái bánh tteok thì nó sẽ không ăn thịt.
②동생이 방법을 알려 주어서 도끼를 찍으면서 나무 위에 올라갔습니다.
Nhờ cô em gái chỉ cho cách nên nó đã bổ rìu vào thân cây mà leo lên.
Đang tải audio… 0%