26. 복 방귀 뀌는 며느리
Nàng dâu có cái rắm mang phúc
옛날 어느 집에 예쁜 며느리가 시집을 왔습니다. 며느리는 마음씨도 곱고 집안일도 아주 잘했습니다. 그래서 가족들은 며느리를 늘 아끼고 칭찬했습니다. 그런데 예쁜 며느리의 안색이 시간이 갈수록 나빠지기 시작했습니다. 얼굴색이 점점 노랗게 변하고 몸도 말라갔습니다. 시아버지가 며느리에게 어디 아프냐고 걱정하며 묻자 며느리가 대답했습니다.
Ngày xưa, ở một nhà nọ có một nàng dâu xinh đẹp về làm dâu. Nàng dâu vừa có tấm lòng hiền hậu lại vừa giỏi việc nhà. Vì vậy cả nhà ai cũng quý mến và khen ngợi nàng. Thế nhưng sắc mặt của nàng dâu xinh đẹp ấy càng ngày càng xấu đi. Mặt nàng dần dần chuyển sang vàng vọt, người cũng gầy rộc đi. Khi bố chồng lo lắng hỏi nàng có ốm đau ở đâu không, nàng dâu đáp:
“아버님, 부끄럽지만 제가 방귀를 참아서 그렇습니다.”
“Thưa cha, con xấu hổ lắm, nhưng là vì con nhịn đánh rắm nên mới thành ra thế này ạ.”
시아버지는 웃음을 터뜨렸습니다.
Bố chồng bật cười ha hả.
“허허허, 방귀 때문이었구나. 방귀를 참으면 건강에 안 좋아. 내가 허락할 테니 내 앞에서 마음대로 방귀를 뀌어도 좋다.”
“Hô hô hô, hóa ra là vì cái rắm. Nhịn đánh rắm thì không tốt cho sức khỏe đâu. Cha cho phép đấy, con cứ thoải mái đánh rắm trước mặt cha cũng được.”
“그런데 아버님, 제 방귀가 좀 셉니다. 날아가지 않도록 무거운 것을 잘 잡고 계세요. 그럼 방귀를 뀌겠습니다. 뿌우웅, 뿡뿡.”
“Nhưng thưa cha, rắm của con hơi mạnh một chút ạ. Cha hãy bám chắc vào vật gì nặng nặng để khỏi bị thổi bay đi. Vậy thì con đánh rắm đây ạ. Bùuuum, bụp bụp.”
며느리가 그동안 참았던 방귀를 뀌자 천둥처럼 큰 소리와 함께 태풍 같은 바람이 불었습니다. 집이 흔들리고 방문이 날아갔습니다. 며느리의 안색은 다시 좋아졌지만 시아버지는 깜짝 놀라 말했습니다.
Khi nàng dâu xả cái rắm nhịn bấy lâu nay, một tiếng nổ lớn như sấm vang lên cùng luồng gió thổi như bão. Ngôi nhà rung lên và cánh cửa phòng bay mất. Sắc mặt nàng dâu tươi tỉnh trở lại, nhưng bố chồng thì giật mình kinh hãi, nói:
“얘야, 미안하지만, 너하고 같이 살다가는 집이 다 없어지겠구나. 내가 너희 고향에 데려다줄 테니 거기에 가 있어라.”
“Này con, cha xin lỗi, nhưng cứ sống chung với con thế này thì nhà cửa sẽ tan tành hết mất. Cha sẽ đưa con về quê nhà con, con hãy về đó ở tạm đi.”
며느리는 속상했지만 시아버지의 마음을 이해할 수 있었습니다. 그래서 짐을 싸서 시아버지와 함께 집을 나왔습니다. 고향으로 가는 길은 멀었습니다. 한참을 가다가 큰 배나무 밑에 사람들이 앉아 이야기하고 있는 것이 보였습니다. 가까이 가 보니 여러 물건을 팔러 다니는 사람들이었습니다. 그중에 한 비단 장수가 말했습니다.
Nàng dâu tủi thân lắm, nhưng nàng cũng hiểu được lòng cha chồng. Thế là nàng thu dọn hành lý rồi cùng cha chồng rời khỏi nhà. Đường về quê nhà xa lắm. Đi một hồi lâu, họ thấy có mấy người đang ngồi nói chuyện dưới gốc một cây lê lớn. Lại gần xem thì đó là những người đi bán rong đủ thứ đồ đạc. Trong số đó, một người bán lụa lên tiếng.
“저 위에 열린 배 좀 봐요. 참 맛있게 생겼네.”
“Nhìn quả lê trên kia kìa. Trông ngon thật đấy.”
“음, 아주 잘 익었는데 너무 높아서 딸 수가 있나?”
“Ừm, chín mọng lắm, nhưng cao quá thì hái làm sao được?”
“우리 내기할까? 저 배를 따는 사람에게 자기가 가지고 있는 물건의 반을 주는 거야.”
“Hay ta cá cược nhé? Ai hái được quả lê đó thì mọi người đưa cho người ấy một nửa số hàng mình đang có.”
“그거 좋지.”
“Thế thì hay quá.”
며느리는 그 말을 듣고 배나무 밑에 앉아 있는 사람들에게 물었습니다.
Nàng dâu nghe vậy liền hỏi những người đang ngồi dưới gốc cây lê:
“그거 정말이지요? 정말로 저 배를 따 주면 여기 있는 물건의 반을 주는 거지요?”
“Chuyện đó là thật chứ ạ? Nếu thật sự hái được quả lê kia xuống thì các bác sẽ cho một nửa số hàng ở đây chứ ạ?”
“아, 그렇다니까요. 그런데 너무 높아서 딸 수 없을 겁니다.”
“Ồ, thì đã bảo là vậy mà. Nhưng cao quá, chắc là không hái nổi đâu.”
“좋아요. 제가 지금 배를 따 드릴 테니까 약속 꼭 지키셔야 합니다. 모두 이쪽으로 물러나세요.”
“Được ạ. Giờ con sẽ hái lê cho các bác, nhưng các bác phải giữ đúng lời hứa đấy. Mọi người hãy lùi hết về phía này đi ạ.”
며느리는 배나무 옆에 갔습니다. 엉덩이를 나무 쪽으로 향하고 배에 힘을 모아서 방귀를 뀌었습니다.
Nàng dâu bước đến bên cây lê. Nàng quay mông về phía cây, dồn hết sức vào bụng rồi đánh một cái rắm.
“뿌우웅, 뿡뿡.”
“Bùuuum, bụp bụp.”
그러자 태풍 같은 방귀 바람에 나무가 흔들리더니 배들이 우두둑 떨어졌습니다. 배나무 아래에는 배가 가득 쌓였습니다. 사람들은 모두 놀랐습니다. 그리고 약속대로 며느리에게 자신들이 가지고 있던 물건의 반을 주었습니다. 그 모습을 보고 있던 시아버지가 사과하며 말했습니다.
Thế là luồng gió rắm như bão làm cây lê rung lên bần bật, rồi lê rụng xuống lộp bộp. Dưới gốc cây lê, lê chất đầy thành đống. Ai nấy đều kinh ngạc. Rồi đúng như lời hứa, họ đưa cho nàng dâu một nửa số hàng mình đang có. Bố chồng đứng nhìn cảnh ấy liền xin lỗi và nói:
“얘야, 고향에 가 있으라고 해서 미안하다. 우리 며느리 방귀가 복 방귀인데 그걸 몰랐구나. 고향에는 다음에 가고 지금은 우리 집으로 다시 돌아가자.”
“Này con, cha xin lỗi vì đã bảo con về quê ở. Rắm của con dâu ta là rắm mang phúc mà cha lại không biết. Quê nhà thì lần sau hãy về, còn bây giờ ta cùng quay lại nhà mình thôi.”
시아버지와 며느리는 다시 집으로 돌아갔습니다. 그리고 며느리는 마음 편하게 방귀를 뀌며 행복하게 잘 살았다고 합니다.
Bố chồng và nàng dâu lại trở về nhà. Và nghe nói từ đó nàng dâu cứ thoải mái đánh rắm mà sống hạnh phúc suốt đời.
Từ vựng
| 곱다 | đẹp, hiền hậu |
| 칭찬하다 | khen ngợi |
| 안색 | sắc mặt |
| 나빠지다 | xấu đi |
| 노랗다 | vàng |
| 터뜨리다 | bật ra, làm nổ tung |
| 허락하다 | cho phép |
| 세다 | mạnh |
| 날아가다 | bay đi |
| 천둥 | sấm |
| 태풍 | bão |
| 흔들리다 | rung, lắc |
| 방문 | cửa phòng |
| 속상하다 | buồn bực, tủi thân |
| 짐 | hành lý |
| (과일이) 열리다 | (quả) kết, ra quả |
| 익다 | chín |
| 물러나다 | lùi lại |
| 사과하다 | xin lỗi |
Câu hỏi
1.며느리의 얼굴색은 왜 점점 노랗게 변했습니까?
Vì sao sắc mặt của nàng dâu dần dần chuyển sang vàng vọt?
2.시아버지는 왜 며느리의 방귀를 복 방귀라고 말했습니까?
Vì sao bố chồng lại nói cái rắm của nàng dâu là rắm mang phúc?
Xem đáp án
①방귀를 참았기 때문입니다.
Vì nàng đã nhịn đánh rắm.
②방귀 바람으로 나무에서 배가 떨어지게 해서 사람들이 가지고 있던 물건의 반을 받았기 때문입니다.
Vì nàng đã dùng luồng gió rắm làm lê rụng khỏi cây nên nhận được một nửa số hàng mà mọi người đang có.
Đang tải audio… 0%