24. 신기한 항아리
Chiếc chum thần kỳ
옛날 어느 마을에 가난한 농부가 살았습니다. 어느 날 농부가 밭에서 일을 하고 있는데 땅 밑에 뭔가 살짝 보였습니다. 농부는 궁금해서 땅을 파 보았습니다. 그것은 아주 큰 항아리였습니다. 농부는 항아리를 집으로 가지고 와서 그 안에 쟁기를 넣어 두었습니다. 다음날 농부는 밭에 일하러 가기 위해 어제 항아리 안에 넣어 둔 쟁기를 꺼냈습니다. 그런데 항아리 안에 쟁기가 하나 더 있었습니다.
Ngày xửa ngày xưa, ở một ngôi làng nọ có một người nông dân nghèo sinh sống. Một hôm, khi đang làm việc ngoài ruộng, người nông dân thấy thấp thoáng có thứ gì đó dưới mặt đất. Thấy lạ, anh bèn đào đất lên xem. Đó là một chiếc chum rất lớn. Người nông dân mang chum về nhà rồi bỏ chiếc cày vào trong đó. Hôm sau, để đi làm ruộng, anh lấy chiếc cày đã cất trong chum hôm qua ra. Thế nhưng trong chum lại còn một chiếc cày nữa.
‘내가 잘못 봤나?’
‘Hay là mình nhìn nhầm?’
농부는 눈을 비비고 다시 보았습니다. 방금 쟁기를 꺼냈던 그 항아리 안에 똑같은 쟁기가 하나 더 있었습니다. 농부는 이상하다고 생각하면서 그 쟁기를 꺼냈는데 항아리에 쟁기가 또 하나 생겼습니다.
Người nông dân dụi mắt rồi nhìn lại. Trong chiếc chum mà anh vừa lấy cày ra vẫn còn thêm một chiếc cày y hệt. Anh thấy lạ quá, bèn lấy chiếc cày đó ra, thì trong chum lại hiện ra thêm một chiếc cày nữa.
‘오, 물건을 넣으면 같은 물건이 계속 생기는 요술 항아리구나.’
‘Ồ, hóa ra đây là chiếc chum thần, cứ bỏ đồ vật vào là lại sinh ra thêm đồ vật giống hệt.’
농부는 항아리에 돈을 넣은 뒤 돈을 꺼내고 또 꺼냈습니다. 농부는 이렇게 해서 부자가 되었습니다. 가난한 농부가 갑자기 부자가 되었다는 말을 듣고 욕심쟁이 부자가 농부를 찾아왔습니다.
Người nông dân bỏ tiền vào chum rồi lấy ra, lấy ra mãi. Nhờ vậy mà anh trở nên giàu có. Nghe tin người nông dân nghèo bỗng nhiên giàu lên, một phú ông tham lam tìm đến nhà anh.
“그 항아리는 어디에서 난 건가?”
“Cái chum đó anh lấy ở đâu ra vậy?”
“제 밭에서 난 것이요.”
“Thưa, nó ra từ ruộng của tôi ạ.”
“그렇지? 사실 오래전에 우리 할아버지가 그 밭에 항아리를 묻었는데 밭을 팔 때 항아리를 꺼내는 것을 깜빡 잊고 팔았다네. 그러니 그 항아리를 내가 다시 가지고 가야겠네.”
“Đúng rồi chứ gì? Thật ra ngày xưa ông nội ta đã chôn một chiếc chum ở thửa ruộng đó, lúc bán ruộng ông lại quên khuấy mất không lấy chum lên. Vậy nên ta phải mang chiếc chum ấy về mới được.”
“그게 무슨 말입니까? 지금은 제 밭 아닙니까? 제 밭에서 나왔으니 제 항아리지요!”
“Ngài nói vậy là sao ạ? Bây giờ đó chẳng phải ruộng của tôi hay sao? Nó ra từ ruộng của tôi thì là chum của tôi chứ!”
두 사람은 서로 자기 항아리라고 싸우다가 결국 원님을 찾아갔습니다. 신기한 항아리를 본 원님은 욕심이 났습니다. 이 기회에 신기한 항아리를 가져야겠다고 생각했습니다.
Hai người cãi nhau, ai cũng bảo chum là của mình, cuối cùng họ tìm đến quan huyện. Nhìn thấy chiếc chum thần kỳ, quan huyện nổi lòng tham. Ông nghĩ phải nhân cơ hội này chiếm lấy chiếc chum thần kỳ ấy.
“이 싸움의 원인은 바로 저 항아리다. 여봐라, 지금 즉시 저 나쁜 항아리를 감옥에 잡아넣어라.”
“Nguyên nhân của vụ tranh cãi này chính là cái chum kia. Người đâu, mau tống ngay cái chum xấu xa đó vào ngục cho ta!”
두 사람은 불만이 많았습니다.
Hai người rất bất mãn.
“원님, 항아리 주인을 찾아 주셔야지요.”
“Thưa quan, ngài phải tìm ra chủ nhân của chiếc chum chứ ạ.”
“됐다. 너희들 얘기는 충분히 들었다. 그리고 항아리는 감옥에 잡아 넣었으니까 너희 둘은 이제 싸울 일이 없어졌다. 이만 가 보거라.”
“Thôi đủ rồi. Chuyện của các ngươi ta đã nghe đủ cả. Mà chum thì đã bị tống giam rồi, nên hai ngươi không còn gì để cãi nhau nữa. Lui về đi.”
두 사람은 불만족스러웠지만 집으로 돌아갈 수밖에 없었습니다. 밤이 되었을 때 원님은 신기한 항아리를 자기 집에 있는 창고로 가지고 갔습니다.
Hai người tuy không hài lòng nhưng cũng đành phải trở về nhà. Đến đêm, quan huyện mang chiếc chum thần kỳ về cất trong nhà kho ở nhà mình.
그러고는 항아리에 값비싼 최고급 비단을 넣어 보았습니다. 그러자 정말로 비단이 하나 더 생겼습니다. 원님은 기쁜 마음으로 방으로 들어갔습니다.
Rồi ông thử bỏ vào chum một tấm lụa thượng hạng đắt tiền. Quả nhiên lại sinh ra thêm một tấm lụa nữa. Quan huyện vui mừng trở vào phòng.
느 늦은 밤 곶감이 먹고 싶던 원님의 아버지가 창고에 왔다가 항아리를 보았습니다.
Đêm khuya, cha của quan huyện thèm ăn hồng khô nên ra nhà kho, rồi trông thấy chiếc chum.
‘내가 저번에 곶감을 여기 어디에 두었는데 어디였더라? 곶감이 이 안에 들어 있나?’
‘Lần trước ta để hồng khô ở đâu đó quanh đây mà nhỉ? Hay là hồng khô nằm trong này?’
항아리 속을 보던 원님의 아버지는 항아리에 빠졌습니다.
Cha của quan huyện đang nhìn vào trong chum thì ngã lọt xuống.
“나 좀 꺼내 줘. 거기 누구 없느냐?”
“Kéo ta ra với. Có ai ngoài đó không?”
이 소리를 듣고 놀란 원님이 와서 아버지를 꺼내 주었습니다. 그런데 잠시 후 항아리에서 또 소리가 들렸습니다.
Nghe tiếng kêu, quan huyện giật mình chạy đến kéo cha ra. Thế nhưng một lát sau, từ trong chum lại vang lên tiếng gọi.
“나 좀 꺼내 줘. 거기 누구 없느냐?”
“Kéo ta ra với. Có ai ngoài đó không?”
원님이 아버지를 꺼내고 또 꺼내도 아버지가 계속 나왔습니다. 수없이 많은 원님의 아버지들은 항아리를 사이에 두고 서로 자기가 진짜 아버지라고 싸웠습니다. 그러다가 결국 항아리는 깨지고 말았습니다.
Quan huyện kéo cha ra rồi lại kéo nữa, mà cha vẫn cứ chui ra mãi. Vô số ông cha của quan huyện đứng quanh chiếc chum, ai cũng cãi rằng mình mới là người cha thật. Rồi cuối cùng chiếc chum bị vỡ tan.
Từ vựng
| 살짝 | thấp thoáng, khẽ |
| 원인 | nguyên nhân |
| 파다 | đào |
| 즉시 | ngay lập tức |
| 쟁기 | cái cày |
| 불만 | sự bất mãn |
| 비비다 | dụi, xoa |
| 충분히 | đầy đủ, đủ |
| 똑같다 | giống hệt |
| 이만 | thôi, đến đây |
| (땅에) 묻다 | chôn (dưới đất) |
| 불만족스럽다 | không hài lòng |
| 깜빡 | quên khuấy, lơ đễnh |
| 창고 | nhà kho |
| 잊다 | quên |
| 최고급 | hạng cao cấp nhất, thượng hạng |
| 자기 | bản thân, của mình |
| 저번 | lần trước |
| 기회 | cơ hội |
| 수없이 | vô số, không đếm xuể |
Câu hỏi
1.농부의 항아리는 어떤 항아리입니까?
Chiếc chum của người nông dân là chiếc chum như thế nào?
2.원님의 아버지는 항아리에 왜 빠졌습니까?
Vì sao cha của quan huyện lại ngã vào trong chum?
Xem đáp án
①물건을 넣으면 같은 물건이 계속 생기는 요술 항아리입니다.
Đó là chiếc chum thần, cứ bỏ đồ vật vào là lại sinh ra thêm đồ vật giống hệt.
②원님의 아버지는 곶감이 항아리에 있는지 보다가 항아리에 빠졌습니다.
Cha của quan huyện ngã vào chum khi đang nhìn xem có hồng khô trong chum hay không.
Đang tải audio… 0%