50 truyện cổ tíchSong ngữ Hàn – Việt
Truyện 18 · B1 · trang 074-077
44 câu · ⭐ 0

18. 호랑이와 곶감

Con hổ và quả hồng khô

옛날에 어느 산에 호랑이 마리가 살았습니다. 호랑이는 배가 고파서 먹을 것을 찾으러 마을로 내려왔습니다.

Ngày xửa ngày xưa, ở một ngọn núi nọ có một con hổ sinh sống. Hổ đói bụng quá nên mò xuống làng tìm cái ăn.

“며칠을 굶었더니 너무 배가 고프군. 음, 집에 소가 있을 같은데…….”

“Nhịn đói mấy ngày liền nên đói quá đi mất. Hừm, nhà này chắc là có bò…….”

호랑이가 외양간에 들어가려고 하는데 “으앙” 하고 우는 소리가 들렸습니다. 아이의 엄마가 말했습니다.

Hổ vừa định chui vào chuồng bò thì nghe tiếng khóc “oa oa”. Mẹ của đứa bé nói:

“얘야, 울지 마. 밖에 호랑이 왔다.”

“Con ơi, đừng khóc. Ngoài kia có hổ đấy.”

그런데 아이는 소리로 울었습니다. 호랑이는 생각했습니다.

Thế mà đứa bé lại khóc to hơn. Hổ nghĩ thầm:

‘내가 무섭지 않다고?’

‘Nó không sợ mình sao?’

그때 엄마가 말했습니다.

Vừa lúc đó người mẹ nói:

“얘야, 여기 곶감 있다. 곶감.”

“Con ơi, đây có hồng khô này. Hồng khô nè.”

그러자 아이는 울음을 그쳤습니다.

Thế là đứa bé nín khóc ngay.

‘곶감이 뭔데 아이가 울음을 그쳤지? 나보다 무서운 동물이 있다고?’

‘Hồng khô là cái gì mà đứa bé nín khóc vậy? Lại có con vật nào đáng sợ hơn cả mình sao?’

호랑이는 곶감이 무서워서 어두운 외양간에 들어가 숨었습니다. 호랑이는 크고 무서운 동물을 상상했습니다. 너무 무서워서 몸이 떨렸습니다.

Hổ sợ hồng khô nên chui vào chuồng bò tối om trốn. Hổ tưởng tượng ra một con vật to lớn và đáng sợ. Sợ quá nên cả người run lên bần bật.

‘이 집에 곶감이라는 무서운 동물이 있었구나.’

‘Thì ra nhà này có một con vật đáng sợ tên là hồng khô.’

마침 외양간 안에서는 소도둑이 소를 찾고 있었습니다.

Đúng lúc ấy, trong chuồng bò có một tên trộm bò đang mò tìm bò.

‘흠. 너무 어두워서 보이지 않네. 분명히 이쯤에 소가 있을 텐데…….’

‘Hừm. Tối quá chẳng nhìn thấy gì cả. Chắc chắn con bò phải ở quanh đây mà…….’

그때 외양간으로 들어오는 호랑이 등에 소도둑의 손이 닿았습니다.

Ngay lúc đó, tay tên trộm bò chạm phải lưng con hổ vừa chui vào chuồng.

‘그래, 소가 바로 여기에 있었구나!’

‘Đúng rồi, con bò ở ngay đây mà!’

소도둑은 떨고 있는 호랑이가 소인 알고 호랑이 등에 탔습니다. 그리고 얼른 호랑이 목에 줄을 묶었습니다. 순간 무서운 곶감이 자기를 잡아먹으려 한다고 생각한 호랑이는 깜짝 놀라 밖으로 달렸습니다. 얼마 구름 뒤에 숨었던 밝은 보름달이 나타나자 소도둑은 자신이 타고 있는 것이 소가 아니라 호랑이였다는 것을 알았습니다.

Tên trộm bò tưởng con hổ đang run rẩy là con bò nên trèo lên lưng nó. Rồi hắn nhanh tay buộc dây vào cổ hổ. Ngay khoảnh khắc đó, con hổ tưởng con hồng khô đáng sợ định ăn thịt mình nên giật nảy mình, phóng thẳng ra ngoài. Một lát sau, vầng trăng rằm sáng vằng vặc nãy giờ nấp sau đám mây hiện ra, tên trộm bò mới biết thứ mình đang cưỡi không phải bò mà là hổ.

‘아니, 소가 아니라 호랑이네! 나는 이제 죽었구나.’

‘Ối, không phải bò mà là hổ! Phen này mình chết chắc rồi.’

소도둑은 호랑이 목에 줄을 잡았습니다. 도둑에게 잡힌 호랑이는 달리면서 생각했습니다.

Tên trộm bò nắm chặt hơn sợi dây buộc ở cổ hổ. Con hổ bị tên trộm tóm chặt vừa chạy vừa nghĩ:

‘곶감이 나를 죽이려고 하는구나!’

‘Con hồng khô định giết mình rồi!’

호랑이는 곶감을 떨어뜨리려고 이리 뛰고 저리 뛰었습니다. 마침 소도둑의 옷이 나무에 걸려서 소도둑은 호랑이 등에서 내려오게 되었습니다.

Hổ nhảy chồm chỗ này chỗ kia để hất con hồng khô rơi xuống. Vừa may áo tên trộm bò mắc vào cành cây nên hắn rơi khỏi lưng hổ.

‘앗, 곶감이 떨어졌다.’

‘A, con hồng khô rơi xuống rồi.’

호랑이는 곶감이 따라올까 무서워서 뒤도 보지 않고 열심히 도망갔습니다. 멀리 산으로 뛰어가는 호랑이를 보면서 소도둑은 생각했습니다.

Hổ sợ con hồng khô đuổi theo nên cắm đầu chạy trốn, không dám ngoảnh lại. Nhìn con hổ chạy về phía núi xa, tên trộm bò nghĩ:

‘아, 다행이다. 이제 절대로 도둑질은 거야.’

‘Ôi, may quá. Từ nay mình nhất định không đi ăn trộm nữa.’

Từ vựng

내려오다đi xuống, xuống
굶다nhịn đói, bỏ đói
외양간chuồng bò
con, bé (cách gọi thân mật với trẻ)
숨다trốn, nấp
상상하다tưởng tượng
떨리다run, run rẩy (bị động)
마침vừa lúc, vừa may
도둑kẻ trộm
-쯤khoảng, chừng
닿다chạm, với tới
떨다run, run rẩy
얼른nhanh, mau
dây, dây thừng
묶다buộc, thắt
매다buộc
chặt
잡히다bị bắt, bị tóm
이리chỗ này, đằng này
다행may mắn, may

Câu hỏi

  1. 1.아이는 왜 울음을 그쳤습니까?

    Vì sao đứa bé nín khóc?

  2. 2.호랑이는 왜 산으로 도망쳤습니까?

    Vì sao con hổ chạy trốn lên núi?

Xem đáp án
  1. 엄마가 곶감을 주었기 때문입니다.

    Vì người mẹ đã cho bé quả hồng khô.

  2. 무서운 곶감이 자신을 죽이려고 한다고 생각했기 때문에 도망쳤습니다.

    Vì hổ nghĩ rằng con hồng khô đáng sợ định giết mình nên đã chạy trốn.

0:003:54
1.00×

Đang tải audio… 0%